ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

Thứ Tư, 10 tháng 3, 2021

Hành vi hủy hoại đất sẽ bị xử lý như thế nào?

Hủy hoại đất là hành vi làm biến dạng địa hình hoặc làm suy giảm chất lượng đất hoặc gây ô nhiễm đất mà làm mất hoặc giảm khả năng sử dụng đất theo mục đích đã được xác định.

Căn cứ vào Điều 3 Khoản 3 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đã quy định các trường hợp hủy hoại đất bao gồm:

i)  Làm biến dạng địa hình trong các trường hợp: thay đổi độ dốc bề mặt đất; hạ thấp bề mặt đất do lấy đất mặt dùng vào việc khác hoặc làm cho bề mặt đất thấp hơn so với thửa đất liền kề; san lấp đất có mặt nước chuyên dùng, kênh, mương tưới, tiêu nước hoặc san lấp nâng cao bề mặt của đất sản xuất nông nghiệp so với các thửa đất liền kề; trừ trường hợp cải tạo đất nông nghiệp thành ruộng bậc thang và hình thức cải tạo đất khác phù hợp với mục đích sử dụng đất được giao, được thuê hoặc phù hợp với dự án đầu tư đã được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất phê duyệt hoặc chấp thuận;

ii)  Làm suy giảm chất lượng đất trong các trường hợp: làm mất hoặc giảm độ dầy tầng đất đang canh tác; làm thay đổi lớp mặt của đất sản xuất nông nghiệp bằng các loại vật liệu, chất thải hoặc đất lẫn sỏi, đá hay loại đất có thành phần khác với loại đất đang sử dụng; gây xói mòn, rửa trôi đất nông nghiệp;                iii) Gây ô nhiễm đất là trường hợp đưa vào trong đất các chất độc hại hoặc vi sinh vật, ký sinh trùng có hại cho cây trồng, vật nuôi, con người;

iv) Làm mất khả năng sử dụng đất theo mục đích đã được xác định là trường hợp sau khi thực hiện một trong các hành vi quy định tại các trường hợp i) ii) iii) trên mà dẫn đến không sử dụng đất được theo mục đích được Nhà nước giao, cho thuê, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất;                                                 

 v) Làm giảm khả năng sử dụng đất theo mục đích đã được xác định là trường hợp sau khi thực hiện một trong các hành vi quy định tại các điểm a, b và c khoản này mà phải đầu tư cải tạo đất mới có thể sử dụng đất theo mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất.

Cũng theo căn cứ của Nghị định trên tại Điều 15 quy định về hình thức và mức xử phạt đối với các trường hợp làm biến dạng địa hình hoặc làm suy giảm chất lượng đất như sau: Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng nếu diện tích đất bị hủy hoại dưới 0,05 héc ta; Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng nếu diện tích đất bị hủy hoại từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta; Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng nếu diện tích đất bị hủy hoại từ 0,1 héc ta đến dưới 0,5 héc ta; Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng nếu diện tích đất bị hủy hoại từ 0,5 héc ta đến dưới 01 héc ta; Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng nếu diện tích đất bị hủy hoại từ 01 héc ta trở lên.

 

Đối với trường hợp gây ô nhiễm thì hình thức và mức xử phạt thực hiện theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm quy định về hình thức, mức xử phạt như trên và đồng thời buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm. Trường hợp người có hành vi vi phạm không chấp hành thì Nhà nước thu hồi đất theo quy định ở Luật đất đai.

Nguồn: luatsu1900

Thứ Ba, 9 tháng 3, 2021

Cha mẹ chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn có làm giấy khai sinh cho con được không?

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 8 luật hôn nhân gia đình về độ tuổi kết hôn: “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên”. Việc kết hôn khi chưa đủ tuổi là vi phạm luật hôn nhân gia đình, hôn nhân này không được pháp luật công nhận, giữa họ không phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng. Vậy những đứa trẻ sinh ra từ hôn nhân không được pháp luật công nhận có được đăng ký khai sinh hay không?

Căn cứ vào Điều 13 Luật trẻ em 2016: “Trẻ em có quyền được khai sinh, khai tử, có họ, tên, có quốc tịch; được xác định cha, mẹ, dân tộc, giới tính theo quy định của pháp luật”. Điều đó có nghĩa là, mọi trẻ em sinh ra đều có quyền được khai sinh, không phân biệt được sinh ra trong hoàn cảnh, điều kiện nào kể cả việc cha mẹ của đứa trẻ chưa đủ tuổi kết hôn.

Tuy nhiên, vì không có giấy đăng ký kết hôn nên nên thủ tục khai sinh sẽ được đăng kí theo thủ tục khai sinh cho con ngoài giá thú, lúc này, cán bộ hộ tịch sẽ đăng ký khai sinh cho con trong trường hợp chưa xác định được cha hoặc mẹ.

Để ghi thông tin người cha hoặc mẹ vào giấy khai sinh trước hết phải có thủ tục nhận cha mẹ con tại cơ quan hộ tịch, người cha, mẹ cũng có thể yêu cầu làm thủ tục nhận con vào thời điểm đăng ký khai sinh theo quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định số 123/2005/NĐ-CP: “Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh người cha yêu cầu làm thủ tục nhận con thì Uỷ ban nhân dân kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh”

Như vậy, việc làm khai sinh cho con không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân cũng như độ tuổi của cha mẹ, điều này đảm bảo quyền được khai sinh của trẻ em và quyền làm cha mẹ của công dân.

Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về việc làm giấy khai sinh cho con khi cha mẹ chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào, hay muốn biết rõ hơn về giấy tờ và thủ tục làm giấy khai sinh cho con, hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn hoặc hỗ trợ chi tiết.

Nguồn: luatsu1900

Nghĩa vụ cấp dưỡng khi làm chết người đang nuôi con nhỏ

Khoản 2 Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác” Điều đó có nghĩa là ngoài việc xem xét hành vi gây thiệt hại thì còn phải xem xét nguyên nhân xảy ra, thiệt hại phát sinh do đâu, lỗi thuộc về nạn nhân hay thuộc về người còn sống, từ đó mới xác định được trách nhiệm bồi thường

Điều 593 Bộ luật dân sự 2015 quy định về đối tượng nhận cấp dưỡng như sau: “Người chưa thành niên hoặc người đã thành thai là con của người chết và còn sống sau khi sinh ra được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi đủ mười tám tuổi, trừ trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động và có thu nhập đủ nuôi sống bản thân; Người thành niên nhưng không có khả năng lao động được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi chết”

Căn cứ vào Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP: ” Chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu trước khi tính mạng bị xâm phạm người bị thiệt hại thực tế đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Những người đang được người bị thiệt hại cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng, tương ứng đó. Đối với những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng sau khi người bị thiệt hại bị xâm phạm tính mạng, thì những người này được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng hợp lý phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường. Thời điểm cấp dưỡng được xác định kể từ thời điểm tính mạng bị xâm phạm”.

Ngoài ra, Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP cũng hướng dẫn chi tiết việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng: “Người có nghĩa vụ cấp dưỡng không phải là thay người bị thiệt hại nuôi dưỡng con của họ, mà là việc đóng góp tiền bạc cùng những người trực tiếp nuôi dưỡng những người con chưa thành niên này”

Như vậy, khi xảy ra tai nạn, nếu như người bị chết có nghĩa vụ phải cấp dưỡng nuôi con thì người gây ra tai nạn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với các con của nạn nhân. Tuy nhiên, mức bồi thường có căn cứ đến các yếu tố lỗi và khả năng kinh tế của người phải bồi thường

Trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, người được cấp dưỡng hoặc người có lợi ích liên quan có thể khởi kiện ra Toà án dân sự, yêu cầu Toà án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.

Trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng vẫn không thực hiện nghĩa vụ của mình mặc dù đã có phán quyết của Toà án sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng theo Điều 186 Bộ luật Hình sự 2015: “Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quyết định của Tòa án mà từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, làm cho người được cấp dưỡng lâm tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”.

Nguồn: luatsu1900

Thứ Hai, 8 tháng 3, 2021

Muốn chào bán bảo hiểm nhân thọ cần những điều kiện gì?

Theo Luật kinh doanh bảo hiểm thì bảo hiểm nhân thọ là một loại nghiệp vụ bảo hiểm trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Chào bán bảo hiểm nói chung hay bảo hiểm nhân thọ nói riêng không chỉ là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm mà đại lý bảo hiểm cũng có thể thực hiện hoạt động này.

Đại lý bảo hiểm là tổ chức, cá nhân được doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền trên cơ sở hợp đồng đại lý bảo hiểm để thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Như vậy có thể hiểu rằng muốn bán bảo hiểm nhân thọ thì trước hết phải là đại lý bảo hiểm.

Muốn làm đại lý bảo hiểm thì phải ký hợp đồng đại lý bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm. Khi đó doanh nghiệp bảo hiểm sẽ ủy quyền cho cá nhân, tổ chức thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm. Đại lý bảo hiểm có thể được doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền tiến hành các hoạt động sau đây:

- Giới thiệu, chào bán bảo hiểm;

- Thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm;

- Thu phí bảo hiểm;

- Thu xếp giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;

- Thực hiện các hoạt động khác có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm.

Hiện nay có rất nhiều người mua bảo hiểm nhân thọ cho bản thân mình hoặc cho người thân của họ. Vì vậy mà cũng có khá nhiều cá nhân, tổ chức tham gia vào hoạt động chào bán bảo hiểm để nhận hoa hồng từ các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm. Vậy theo quy định của pháp luật thì cá nhân, tổ chức không phải là doanh nghiệp bảo hiểm muốn chào bán bảo hiểm nhân thọ thì cần những điều kiện nào? Mời Quý thành viên tham khảo qua bài viết sau.

Theo Luật kinh doanh bảo hiểm thì bảo hiểm nhân thọ là một loại nghiệp vụ bảo hiểm trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Chào bán bảo hiểm nói chung hay bảo hiểm nhân thọ nói riêng không chỉ là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm mà đại lý bảo hiểm cũng có thể thực hiện hoạt động này.

Đại lý bảo hiểm là tổ chức, cá nhân được doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền trên cơ sở hợp đồng đại lý bảo hiểm để thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Như vậy có thể hiểu rằng muốn bán bảo hiểm nhân thọ thì trước hết phải là đại lý bảo hiểm.

Muốn làm đại lý bảo hiểm thì phải ký hợp đồng đại lý bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm. Khi đó doanh nghiệp bảo hiểm sẽ ủy quyền cho cá nhân, tổ chức thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm. Đại lý bảo hiểm có thể được doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền tiến hành các hoạt động sau đây:

- Giới thiệu, chào bán bảo hiểm;

- Thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm;

- Thu phí bảo hiểm;

- Thu xếp giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;

- Thực hiện các hoạt động khác có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm.

Cá nhân, tổ chức khi ký hợp đồng đại lý bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm thì phải đáp ứng những điều kiện gì để hoạt động đại lý bảo hiểm?

- Cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm phải có đủ các điều kiện sau đây:

+  Là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam;

+ Từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

+ Có Chứng chỉ đại lý bảo hiểm do cơ sở đào tạo được Bộ Tài chính chấp thuận cấp.

- Tổ chức hoạt động đại lý bảo hiểm phải có đủ các điều kiện sau đây:

+ Là tổ chức được thành lập và hoạt động hợp pháp;

+ Nhân viên trong tổ chức đại lý trực tiếp thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm phải có đủ các điều kiện quy định như đối với cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm nêu trên.

Lưu ý: Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang phải chấp hành hình phạt tù hoặc bị Toà án tước quyền hành nghề vì phạm các tội theo quy định của pháp luật không được ký kết hợp đồng đại lý bảo hiểm.

Hợp đồng đại lý bảo hiểm phải có các nội dung chủ yếu sau đây:

- Tên, địa chỉ của đại lý bảo hiểm;

- Tên, địa chỉ của doanh nghiệp bảo hiểm;

- Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm, đại lý bảo hiểm;

- Nội dung và phạm vi hoạt động đại lý bảo hiểm;

- Hoa hồng đại lý bảo hiểm;

- Thời hạn hợp đồng;

- Nguyên tắc giải quyết tranh chấp.

Tóm lại, cá nhân, tổ chức muốn chào bán bảo hiểm nhân thọ thì trước hết phải đáp ứng các điều kiện hoạt động đại lý bảo hiểm và được doanh nghiệp bảo hiểm ủy quyền hoạt động đại lý bảo hiểm trên cơ sở hợp đồng đại lý bảo hiểm.

Nguồn: thuvienphapluat

Có được chuyển mục đích sử dụng từ đất ở sang đất nông nghiệp?

Theo quy định tại Luật Đất đai 2013 và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn liên quan đến vấn đề chuyển mục đích sử dụng đất, hiện hành, có 2 nhóm trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất, bao gồm: Chuyển mục đích sử dụng đất phải xin phép và Chuyển mục đích sử dụng đất không phải xin phép nhưng phải đăng ký biến động.

Chi tiết được thể hiện tại bảng sau:

STT

Các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất không phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng phải đăng ký biến động

1

Chuyển đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối;

Chuyển đất trồng cây hàng năm sang đất nông nghiệp khác gồm: đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt; đất xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm;

2

Chuyển đất trồng cây hàng năm khác sang đất nuôi trồng thủy sản nước mặn, đất làm muối, đất nuôi trồng thủy sản dưới hình thức ao, hồ, đầm;

Chuyển đất trồng cây hàng năm khác, đất nuôi trồng thủy sản sang trồng cây lâu năm;

3

Chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất sang sử dụng vào mục đích khác trong nhóm đất nông nghiệp;

Chuyển đất trồng cây lâu năm sang đất nuôi trồng thủy sản, đất trồng cây hàng năm;       

4

Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp;

Chuyển đất ở sang đất phi nông nghiệp không phải là đất ở;

5

Chuyển đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất;

Chuyển đất thương mại, dịch vụ sang đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại, dịch vụ; chuyển đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại, dịch vụ hoặc đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp sang đất xây dựng công trình sự nghiệp.

 

6

Chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở;

 

7

Chuyển đất xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng có mục đích kinh doanh, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại, dịch vụ sang đất thương mại, dịch vụ; chuyển đất thương mại, dịch vụ, đất xây dựng công trình sự nghiệp sang đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp.

 


Như vậy, câu trả lời là người dân KHÔNG được phép tiến hành việc chuyển mục đích sử dụng từ đất ở hoặc đất thương mại, dịch vụ hay một loại đất khác thuộc nhóm đất phi nông nghiệp sang đất nông nghiệp. Vì vậy, không đặt ra vấn đề là có phải xin phép đối với thủ tục này hay không, trên thực tế, không tồn tại thủ tục hành chính này cho người dân thực hiện.

Nguồn: thuvienphapluat

Thứ Hai, 1 tháng 3, 2021

Tiền thưởng Tết có phải đóng thuế thu nhập cá nhân không?

Khoán 2 điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC giải thích: “Thu nhập từ tiền lương, tiền công là thu nhập người lao động nhận được từ người sử dụng lao động”, trong đó bao gồm tiền thưởng.

Điểm e khoản 2 Điều 2 Thông tư 111/2013?TT-BTC quy định các loại tiền thưởng không phải đóng thuế thu nhập cá nhân bao gồm: “Tiền thưởng kèm theo các danh hiệu được Nhà nước phong tặng, bao gồm cả tiền thưởng kèm theo các danh hiệu thi đua, các hình thức khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng, cụ thể: Tiền thưởng kèm theo các danh hiệu thi đua như Chiến sĩ thi đua toàn quốc; Chiến sĩ thi đua cấp Bộ, ngành, đoàn thể Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Chiến sĩ thi đua cơ sở, Lao động tiên tiến, Chiến sỹ tiên tiến. Tiền thưởng kèm theo các hình thức khen thưởng. Tiền thưởng kèm theo các danh hiệu do Nhà nước phong tặng. Tiền thưởng kèm theo các giải thưởng do các Hội, tổ chức thuộc các Tổ chức chính trị, Tổ chức chính trị – xã hội, Tổ chức xã hội, Tổ chức xã hội – nghề nghiệp của Trung ương và địa phương trao tặng phù hợp với điều lệ của tổ chức đó và phù hợp với quy định của Luật Thi đua, Khen thưởng. Tiền thưởng kèm theo giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng Nhà nước. Tiền thưởng kèm theo Kỷ niệm chương, Huy hiệu. Tiền thưởng kèm theo Bằng khen, Giấy khen. Thẩm quyền ra quyết định khen thưởng, mức tiền thưởng kèm theo các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng nêu trên phải phù hợp với quy định của Luật Thi đua khen thưởng. Tiền thưởng kèm theo giải thưởng quốc gia, giải thưởng quốc tế được Nhà nước Việt Nam thừa nhận; Tiền thưởng về cải tiến kỹ thuật, sáng chế, phát minh được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận; Tiền thưởng về việc phát hiện, khai báo hành vi vi phạm pháp luật với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền”. Trong đó không bao gồm tiền thưởng Tết, điều đó có nghĩa là tiền thưởng Tết là khoản tiền phải đóng thuế thu nhập cá nhân.

Như vậy, khoản tiền thưởng Tết là khoản thu nhập chịu thuế thu nhâp cá nhân và người lao động phải đóng thuế cho khoản tiền thưởng đó (nếu mức thưởng tết đủ điều kiện đóng thuế thu nhập cá nhân). Thời điểm tính thuế thu nhập cá nhân là thời điểm doanh nghiệp chi trả tiền thưởng cho người lao động.

Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về khoản tiền thưởng chịu thuế thu nhập cá nhân. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn hoặc hỗ trợ chi tiết.

Nguồn: luatsu1900

Thay đổi quyền từ chối nhận di sản có được không?



Khoản 1 điều 620 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác”. Như vậy, từ chối nhận di sản là quyền của người thừa kế, người thừa kế có thể sử dụng hoặc là không. Sau khi đã từ chối nhận di sản, phần di sản của người từ chối sẽ được chia cho những người thừa kế theo pháp luật.

Khoản 2,3 điều 620 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về cách thức từ chối nhận di sản: ” Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết. Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia”. Đây là căn cứ pháp lý để xác định người thừa kế đã từ chối nhận di sản. Văn bản từ chối sẽ được chuyển cho người quản lý di sản, người thừa kế và người phân chia di sản trước thời điểm phân chia di sản. Người từ chối nhận di sản không phải thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến di sản và nghĩa vụ của người chết. Như vậy, trường hợp người thừa kế không tuân thủ các điều kiện trên coi như là chưa từ chối nhận di sản.

Bộ luật Dân sự hiện hành không có quy định nào cho phép người thừa kế thay đổi ý chí sau khi đã làm thủ tục từ chối nhận di sản. Do đó, có thể hiểu khi một văn bản từ chối nhận di sản đáp ứng các điều kiện có hiệu lực thì người thừa kế không có quyền thay đổi ý chí của mình. Vì từ chối nhận di sản là một quyền của người thừa kế và Bộ luật Dân sự cho phép họ lựa chọn có sử dụng quyền này hay không. Khi người thừa kế đã tiến hành các thủ tục từ chối nhận thừa kế tức từ bỏ quyền hưởng thừa kế của mình thì không được phép thay đổi. Điều này là hoàn toàn phù hợp nhằm đảm bảo tính thống nhất, ổn định của việc phân chia di sản cũng như xác định nghĩa vụ của những người nhận thừa kế.

Như vậy việc chối nhận thừa kế của người từ chối nhận di sản đã hợp pháp do người thừa kế tự nguyện từ chối nhận di sản thừa kế thì văn bản từ chối nhận di sản sẽ và phát sinh hiệu lực. Vì vậy, không thể thay đổi ý kiến khi đã từ chối nhận di sản thừa kế.