ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

Thứ Ba, 27 tháng 4, 2021

Giấy tờ nào phải thay đổi khi đổi sang căn cước công dân gắn chip?

  


Trường hợp đổi từ CMND 12 số hoặc CCCD mã vạch sang CCCD gắn chip

Theo thông tư 27/2012/TT-BCA, số chứng minh nhân dân 12 số gồm 12 chữ số tự nhiên, do Bộ Công an cấp và quản lý thống nhất trên toàn quốc. Trường hợp đổi, cấp lại Chứng minh nhân dân thì số ghi trên Chứng minh nhân dân được đổi, cấp lại vẫn giữ đúng theo số ghi trên Chứng minh nhân dân đã cấp lần đầu.

12 chữ số tự nhiên trên chứng minh nhân dân 12 số chính là mã định danh cá nhân. Mã số này không bị thay đổi kể cả khi người dân đổi từ chứng minh nhân dân 12 số sang thẻ căn cước công dân gắn chip điện tử.

Tương tự, với thẻ căn cước công dân mã vạch, khi đổi sang thẻ căn cước công dân gắn chip, 12 số trên thẻ căn cước công dân mã vạch sẽ không bị thay đổi. Như vậy, trường hợp đổi từ chứng minh nhân dân 12 số hoặc căn cước công dân mã vạch sang căn cước công dân gắn chip không cần đổi sổ bảo hiểm xã hội, khai báo thuế.

Trường hợp đổi từ chứng minh nhân dân 9 số sang căn cước công dân gắn chip

Với sổ bảo hiểm xã hội

Theo Điều 27 Quyết định 595/QĐ-BHXH, việc đổi hoặc điều chỉnh nội dung trên sổ BHXH được thực hiện trong các trường hợp sau:

-  Cấp lại sổ BHXH do mất, hỏng;

- Xác nhận thời gian đóng BHXH cho người tham gia được cộng nối thời gian nhưng không phải đóng BHXH và điều chỉnh làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm trước năm 1995.

Bên cạnh đó, công văn 3835/BHXH-CST do Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành về việc sai sót các tiêu thức giữa sổ BHXH và chứng minh nhân dân nêu rõ:

Nếu người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp có thay đổi các nội dung như số chứng minh nhân dân, ngày cấp, nơi cấp Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu thường trú thì không phải cấp lại sổ bảo hiểm xã hội.

Như vậy, căn cứ 2 quy định trên, số chứng minh nhân dân hay số Căn cước công dân là một trong những tiêu thức quản lý đối tượng của cơ quan bảo hiểm xã hội. Do đó, người lao động không phải đổi sổ bảo hiểm xã hội khi đổi từ chứng minh nhân dân 9 số sang căn cước công dân gắn chip. Tuy nhiên, vẫn cần làm thủ tục điều chỉnh thông tin bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế để cơ quan bảo hiểm xã hội cập nhật, điều chỉnh trong cơ sở dữ liệu.

Khai báo với cơ quan thuế

Theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật Quản lý thuế 2019, cá nhân đăng ký thuế trực tiếp với cơ quan thuế, khi có thay đổi một trong các thông tin trên tờ khai đăng ký thuế (ví dụ: thay đổi về số Chứng minh nhân dân/Căn cước công dân...) phải thực hiện thủ tục thông báo thay đổi thông tin đăng ký thuế với cơ quan thuế quản lý trực tiếp trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày phát sinh thông tin thay đổi.

Song, cá nhân không kinh doanh đã được cấp mã số thuế thu nhập cá nhân chậm thay đổi thông tin về chứng minh nhân dân khi được cấp thẻ căn cước công dân lại không thuộc trường hợp bị xử phạt theo Nghị định 125/2020/NĐ-CP.

Những nghị định mới có hiệu lực từ đầu tháng 5/2021


Bỏ sổ hộ khẩu, công dân được tra thông tin cư trú bằng tin nhắn, yêu cầu về người đại diện theo pháp luật của DN thẩm định giá... là những nghị định mới nổi bật có hiệu lực từ đầu tháng 5/2021.


Yêu cầu về người đại diện theo pháp luật của DN thẩm định giá
Nghị định 12/2021/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 89/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật giá về thẩm định giá có hiệu lực từ ngày 01/5/2021.
Theo đó, bổ sung quy định về yêu cầu đối với người đại diện theo pháp luật, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của doanh nghiệp thẩm định giá.

Cụ thể, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thẩm định giá phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Là thẩm định viên về giá đăng ký hành nghề tại doanh nghiệp theo quy định tại điểm c khoản 1 hoặc điểm c khoản 2 hoặc điểm c khoản 3 hoặc điểm c khoản 4 hoặc điểm c khoản 5 Điều 39 Luật giá 2012;
- Có ít nhất 03 năm (36 tháng) là thẩm định viên về giá hành nghề trước khi trở thành người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thẩm định giá;
- Không là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thẩm định giá đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá trong khoảng thời gian 01 năm (12 tháng) tính tới thời điểm nộp hồ sơ cấp, cấp lại Giấy chứng nhận này.

Quy định hỗ trợ tài chính trong Khu kinh tế - quốc phòng
Nghị định 22/2021/NĐ-CP về Khu kinh tế - quốc phòng có hiệu lực từ ngày 05/5/2021.
Theo đó, việc hỗ trợ tài chính trong Khu kinh tế - quốc phòng được quy định như sau:
- Đoàn kinh tế - quốc phòng được hỗ trợ kinh phí mua, sửa chữa trang thiết bị y tế, giáo dục, phương tiện GTVT, phương tiện truyền thông, nhiên liệu và vật tư trang thiết bị khác;...
- Doanh nghiệp quốc phòng an ninh được giao nhiệm vụ xây dựng Khu kinh tế - quốc phòng được hỗ trợ về BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động;
- Hộ dân sinh sống hợp pháp tại Khu kinh tế - quốc phòng được hưởng các quy định về hỗ trợ vay vốn, hỗ trợ giảm nghèo, hỗ trợ về nhà ở, công trình sinh hoạt thiết yếu và BHYT theo quy định;
- Lực lượng trí thức trẻ tình nguyện, quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự đến công tác tại Khu kinh tế - quốc phòng được hưởng các chế độ chính sách, ưu đãi theo quy định.

Lộ trình bố trí công an xã, thị trấn chính quy
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 42/2021/NĐ-CP về xây dựng công an xã thị trấn chính quy, trong đó, chính thức đưa ra lộ trình bố trí công an xã thị trấn chính quy.
Theo đó, Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trao đổi, thống nhất với Chủ tịch UBND cấp huyện trước khi báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trình Bộ trưởng Bộ Công an quyết định tổ chức Công an xã chính quy; bảo đảm ở mỗi xã, thị trấn có các chức danh: Trưởng Công an, Phó trưởng Công an, Công an viên.
Hoàn thành việc tổ chức Công an xã chính quy ở các xã, thị trấn trọng điểm, phức tạp về an ninh, trật tự trước ngày 30/6/2021; các xã, thị trấn còn lại trong toàn quốc hoàn thành việc tổ chức Công an xã chính quy trước ngày 30/6/2022.

Quy định chuyển tiếp
- Đối với xã, thị trấn đã tổ chức Công an chính quy, những trường hợp Công an xã bán chuyên trách được UBND các cấp đồng ý tiếp tục sử dụng tham gia bảo đảm an ninh, trật tự ở cơ sở thì được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của Pháp lệnh Công an xã cho đến khi có văn bản quy phạm pháp luật khác.
- UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định về số lượng, mức phụ cấp đối với Công an xã bán chuyên trách khi tiếp tục được sử dụng tham gia bảo đảm an ninh, trật tự ở cơ sở từ ngân sách nhà nước; quyết định chi hỗ trợ thôi việc đối với Công an xã bán chuyên trách kết thúc nhiệm vụ mà không bố trí sắp xếp được công tác khác hoặc không tiếp tục tham gia bảo đảm an ninh, trật tự ở cơ sở theo các quy định hiện hành, phù hợp với khả năng ngân sách của địa phương, trong trường hợp địa phương không bố trí được nguồn ngân sách thì trung ương sẽ bổ sung kinh phí cho địa phương thực hiện theo Luật Ngân sách nhà nước.
Nghị định 42/2021/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 16/5/2021.

Bỏ sổ hộ khẩu, công dân được tra thông tin cư trú bằng tin nhắn
Nghị định 37/2021 sửa đổi Nghị định 137/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Căn cước công dân sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 14/5/2021.
Nghị định này cho phép công dân khai thác thông tin của mình trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư bằng văn bản yêu cầu cung cấp thông tin hoặc thông qua dịch vụ nhắn tin, cổng dịch vụ công quốc gia, cổng dịch vụ công Bộ Công an.
Cũng theo Nghị định, công dân đã đăng ký khai sinh nhưng chưa được cấp số định danh cá nhân thì cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư xác lập số định danh cá nhân cho công dân theo thông tin hiện có trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Ngay sau khi xác lập được số định danh cá nhân cho công dân, cơ quan trên sẽ có văn bản thông báo cho công dân về số định danh cá nhân đã được xác lập và các thông tin của công dân hiện có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Thứ Hai, 26 tháng 4, 2021

Thẩm quyền xử phạt vi phạm giao thông của Cảnh sát giao thông


Căn cứ theo Điều 76 Nghị định 100/2019/NĐ-CP thì thẩm quyền xử phạt vi phạm giao thông của Công an nhân dân (bao gồm Cảnh sát giao thông và các lực lượng khác) cụ thể như sau:

i) Chiến sĩ Công an nhân dân đang thi hành công vụ có quyền:

– Phạt cảnh cáo;

– Phạt tiền đến 400 ngàn đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và 500.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường sắt.

ii) Trạm trưởng, Đội trưởng của chiến sĩ Công an nhân dân đang thi hành công vụ có quyền:

– Phạt cảnh cáo;

– Phạt tiền đến 1,2 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và 1,5 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường sắt.

iii) Trưởng Công an cấp xã, Trưởng đồn Công an, Trạm trưởng Trạm Công an cửa khẩu, khu chế xuất có quyền:

– Phạt cảnh cáo;

– Phạt tiền đến 2 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và 2,5 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường sắt;

– Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức phạt tiền 2 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và 2,5 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường sắt;

– Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a và c khoản 1 Điều 4 của Nghị định này.

iv) Trưởng Công an cấp huyện; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh sát giao thông; Trưởng phòng Công an cấp tỉnh gồm Trưởng phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông đường bộ – đường sắt; Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát cơ động từ cấp đại đội trở lên, có quyền:

– Phạt cảnh cáo;

– Phạt tiền đến 8 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và 15 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường sắt;

– Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

– Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức phạt tiền 8 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và 15 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường sắt;

– Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c và e khoản 1 Điều 4 Nghị định 100/2019/NĐ-CP.

v) Giám đốc Công an cấp tỉnh có quyền:

– Phạt cảnh cáo;

– Phạt tiền đến 20 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và 37,5 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường sắt;

– Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

– Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức phạt tiền 20 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và 37,5 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường sắt;

– Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các Điểm a, c, đ và e Khoản 1 Điều 4 Nghị định 100/2019/NĐ-CP.

vi). Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông, Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội có quyền:

– Phạt cảnh cáo;

– Phạt tiền đến 40 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và 75 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường sắt;

– Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

– Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

– Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c, đ và e khoản 1 điều 4 Nghị định 100/2019/NĐ-CP.

Nhờ người dưới 18 tuổi mua thuốc lá và bán thuốc lá cho người dưới 18 tuổi

 


Khoản 2 Điều 23 Nghị định 98/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định: “phạt tiền từ 01 triệu đồng đến 02 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây: Bán thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi; Sử dụng người chưa đủ 18 tuổi bán thuốc lá”


Ngoài ra, khoản 1 Điều 23 Nghị định 98/2020/NĐ-CP còn quy định “phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi không treo biển thông báo không bán thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi tại điểm bán theo quy định.”

Như vậy, việc bán thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi là trái với quy định của pháp luật, nếu vi phạm người bán có thể bị phạt tới 2 triệu đối với cá nhân, 4 triệu đối với tổ chức (mức tiền phạt trong luật áp dụng đối với vi phạm của cá nhân, phạt gấp đôi nếu hành vi vi phạm do tổ chức thực hiện).

Không chỉ người bán, cha mẹ, người thân trong gia đình nhờ người chưa đủ 18 tuổi đi mua thuốc lá cũng là hành vi vi phạm pháp luật. Cụ thể khoản 2 điều 29  Nghị định số 117/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực y tế quy định: “Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vận động, ép buộc người khác sử dụng thuốc lá; Sử dụng người chưa đủ 18 tuổi mua thuốc lá”

Như vậy, việc nhờ người chưa đủ 18 tuổi đi mua thuốc lá là trái với quy định của pháp luật, nếu vi phạm, người nhờ mua có thể bị xử phạt lên tới 1 triệu đồng.

Tóm lại, việc nhờ người dưới 18 tuổi đi mua thuốc lá hay việc bán thuốc lá cho người dưới 18 tuổi đều là hành vi vi phạm pháp luật, pháp luật cũng đã có những chế tài cụ thể để phạt những hành vi vi phạm này.

Thứ Sáu, 23 tháng 4, 2021

Phát triển năng lượng tái tạo tại Việt Nam

 

Trong thời gian qua, tình hình cung cấp năng lượng, đặc biệt là cung cấp điện đang gặp nhiều khó khăn khi trữ lượng thủy điện, nhiệt điện gần như đã khai thác hết và nguy cơ phải nhập khẩu năng lượng ngày càng cao.

Bên cạnh đó, Việt Nam với lợi thế là quốc gia cận xích đạo, với số giờ nắng hàng năm cao (trung bình từ 1800-2600 giờ/năm), đây là lợi thế để phát triển năng lượng mặt trời. Bên cạnh đó, với lợi thế đường bờ biển trải dài (3260 km), cùng địa hình thuận lợi, việc xây dựng các trạm điện bằng sức gió là một giải pháp có thể giúp nâng cao sản lượng điện của Việt Nam trong những năm tới.

Theo báo cáo của Bộ Công Thương, đối với điện mặt trời, tổng công suất đã được quy hoạch khoảng 10.300 MW, đã vận hành trên 90 dự án điện mặt trời với tổng công suất khoảng 5.000 MW. Đối với điện gió, theo đề xuất của Bộ Công Thương, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý chủ trương bổ sung quy hoạch thêm 7.000 MW điện gió, nâng tổng quy mô công suất điện gió được quy hoạch lên 11.630 MW.

Ngoài ra, theo cam kết của Việt Nam tại COP21, Việt Nam sẽ cắt giảm 8% lượng khí nhà kính đến năm 2030. Và nếu có sự hỗ trợ hiệu quả từ cộng đồng quốc tế, Việt Nam có thể cắt giảm 25% lượng khí nhà kính vào năm 2030. Công nghệ năng lượng sạch sẽ là một trong các giải pháp tốt nhất để thực hiện cam kết này.

Ngoài ra, việc lắp đặt, vận hành, bảo trì, bảo dưỡng cho hệ thống điện gió, điện mặt trời tương đối đơn giản, ít chi phí vì vậy sẽ tiết kiệm được thời gian cũng như chi phí cho nhà đầu tư. Bên cạnh đó, năng lượng sạch không gây ra các tác động về môi trường di dân quy mô lớn, như phá rừng, phát thải khói bụi, nước và tro xỉ thải… Ngược lại, nó còn tạo ra cảnh quan đẹp, hoành tráng và hấp dẫn đối với các du khách, điều này phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam trong tương lai.

Với các ưu việt về kinh tế và môi trường nên các nhà khoa học công nghệ dự báo, trên phạm vi thế giới đến năm 2040 và 2050, tỷ lệ công suất điện mặt trời trong tổng công suất phát điện sẽ là 45% và 50%; Cơ cấu về sản lượng điện đến năm 2050 như sau: Số 1 là điện mặt trời: 35,8%; tiếp đến là điện gió trên bờ: 24,3%; Điện gió ngoài khơi: 12,1%; Thủy điện: 12,4% và còn lại là các nguồn năng lượng tái tạo khác và hóa thạch, hạt nhân: 15,4%.

Để bảo đảm triển khai quy hoạch tổng thể chung cho thời gian tới, Bộ Công Thương đang tập trung đẩy nhanh tiến độ xây dựng Quy hoạch điện VIII để trình Chính phủ ngay trong quý IV năm 2020. Trong đó, bám sát nội dung Nghị quyết số 55-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” ngày 11 tháng 02 năm 2020, theo đó tỉ lệ các nguồn năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt khoảng 15 – 20% vào năm 2030; 25 – 30% vào năm 2045.

Theo Nghị quyết 55-NQ/TW, Việt Nam sẽ xây dựng các cơ chế, chính sách đột phá để khuyến khích và thúc đẩy phát triển mạnh mẽ các nguồn năng lượng tái tạo nhằm thay thế tối đa các nguồn năng lượng hoá thạch. Ưu tiên sử dụng năng lượng gió và mặt trời cho phát điện; khuyến khích đầu tư xây dựng các nhà máy điện sử dụng rác thải đô thị, sinh khối và chất thải rắn đi đôi với công tác bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế tuần hoàn. Hình thành và phát triển một số trung tâm năng lượng tái tạo tại các vùng và các địa phương có lợi thế. Sớm nghiên cứu, đánh giá tổng thể về tiềm năng và xây dựng định hướng phát triển năng lượng địa nhiệt, sóng biển, thuỷ triều, hải lưu; triển khai một số mô hình ứng dụng, tiến hành khai thác thử nghiệm để đánh giá hiệu quả. Thực hiện nghiên cứu công nghệ, xây dựng một số đề án thử nghiệm sản xuất và khuyến khích sử dụng năng lượng hydro phù hợp với xu thế chung của thế giới. Ngoài ra, Nghị quyết ưu tiên phát triển năng lượng tái tạo phù hợp với khả năng bảo đảm an toàn hệ thống với giá thành điện năng hợp lý. Khuyến khích phát triển điện mặt trời áp mái và trên mặt nước. Xây dựng các chính sách hỗ trợ và cơ chế đột phá cho phát triển điện gió ngoài khơi gắn với triển khai thực hiện Chiến lược biển Việt Nam.

Với những lợi thế và chính sách ưu tiên phát triển năng lượng tái tạo, Việt Nam hi vọng sẽ có nhiều nhà đầu tư quốc tế thực hiện đầu tư quốc tế trong lĩnh vực này để góp phần phát triển hệ thống khai thác năng lượng sạch tại Việt Nam.


Tiếp Nhận Yêu Cầu Rà Soát Chống Bán Phá Giá

Cục phòng vệ Bộ Công Thương tiếp nhận hồ sơ yêu cầu rà soát biện pháp chống bán phá giá đối với một số sản phẩm thép phủ màu có xuất xứ từ Trung Quốc và Hàn Quốc nhập khẩu vào Việt Nam (AD04)

Ngày 20 tháng 08 năm 2020, Cục Phòng vệ thương mại – Bộ Công Thương đã thông báo về việc tiếp nhận hồ sơ yêu cầu rà soát biện pháp chống bán phá giá đối với một số sản phẩm thép phủ màu có xuất xứ từ Trung Quốc và Hàn Quốc nhập khẩu vào Việt Nam.

Cụ thể, ngày 24 tháng 10 năm 2019, Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 3198/QĐ-BCT về việc áp dụng thuế chống bán phá giá đối với một số sản phẩm thép hợp kim hoặc không hợp kim được cán phẳng, được sơn có xuất xứ từ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và nước Đại Hàn Dân quốc.

Căn cứ Điều 82.1.a Luật quản lý ngoại thương 2017: “sau 01 năm kể từ ngày có quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá, Bộ trưởng Bộ Công Thương có quyền quyết định rà soát vụ việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá theo đề nghị của một hoặc nhiều bên liên quan trong vụ việc điều tra và trên cơ sở xem xét các bằng chứng do bên đề nghị cung cấp.”

Liên quan đến quyền nộp hồ sơ yêu cầu rà soát quy định tại Điều 58.1 Nghị định 10/2018/NĐ-CP quy định: “trong thời hạn 60 ngày trước khi kết thúc 01 năm kể từ ngày có quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp chính thức hoặc quyết định mới nhất về kết quả rà soát biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp, các bên liên quan theo quy định tại Điều 59 của Nghị định này có thể nộp Hồ sơ yêu cầu rà soát, trừ trường hợp thời hạn nộp hồ sơ ít hơn 09 tháng tính đến thời hạn Bộ trưởng Bộ Công Thương phải quyết định có tiến hành rà soát cuối kỳ biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp hay không

Theo đó, phạm vi đề nghị rà soát của các bên liên quan quy định tại Điều 74 Luật quản lý ngoại thương bao gồm nhưng không giới hạn bởi các nội dung sau đây:

  • Phạm vi hàng hóa thuộc đối tượng áp dụng biện pháp chống bán phá giá;
  • Biên độ bán phá giá đang áp dụng đối với một hoặc một số doanh nghiệp nước ngoài cụ thể;
  • Thiệt hại của ngành sản xuất trong nước.

Sau khi kết thúc thời hạn rà soát, căn cứ vào kết luận điều tra, Cục Phòng vệ thương mại sẽ kiến nghị Bộ trưởng Bộ Công Thương một trong các phương án như sau:

–     Tiếp tục áp dụng biện pháp chống bán phá giá theo quy định hiện hành; và/hoặc

–     Điều chỉnh biện pháp chống bán phá giá tương ứng với kết quả rà soát; hoặc

–     Chấm dứt việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá.

Việc tiến hành các thủ tục liên quan đến quá trình rà soát sẽ không gây cản trở tới việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá đang có hiệu lực.

Hồ sơ theo hướng dẫn phải được điền đầy đủ và nộp trực tiếp tới Cục phòng vệ thương mại, trước 17h00 ngày 24 tháng 10 năm 2020 (theo giờ Hà Nội).


Thứ Tư, 21 tháng 4, 2021

Quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài khi sở hữu nhà ở tại Việt Nam

 Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, việc sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người nước ngoài đã có những thay đổi đáng kể theo hướng ngày càng thông thoáng hơn. Tuy nhiên quyền sở hữu nhà ở của người nước ngoài và công dân Việt Nam vẫn có những khác biệt.


Về quyền sở hữu nhà ở của người nước ngoài, thì theo Điều 161 Luật Nhà ở năm 2014 và Nghị định số 99/2015/NĐ-CP có những lưu ý sau sau:

Chỉ được sở hữu nhà ở trong các dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại (tức là chỉ ở những khu dân cư mới hình thành, không được sở hữu nhà ở trong những khu dân cư đã hiện hữu), không được sở hữu nhà ở trong khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định pháp luật Việt Nam. Trường hợp được tặng cho, được thừa kế nhà ở không thuộc diện quy định này thì chỉ được hưởng giá trị của nhà ở đó.

Chỉ được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế và sở hữu không quá 30% số lượng căn hộ trong một tòa nhà chung cư; nếu là nhà ở riêng lẻ bao gồm nhà biệt thự, nhà ở liền kề thì trên một khu vực có số dân tương đương một đơn vị hành chính cấp phường chỉ được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế và sở hữu không quá 250 căn nhà.

Trường hợp trong một khu vực có số dân tương đương một đơn vị hành chính cấp phường mà có nhiều nhà chung cư hoặc đối với nhà ở riêng lẻ trên một tuyến phố thì số lượng nhà ở riêng lẻ mà tổ chức, cá nhân nước ngoài này được sở hữu: Trường hợp chỉ có một dự án có số lượng nhà ở riêng lẻ dưới 2500 căn thì cá nhân nước ngoài chỉ được sở hữu không quá 10% tổng số lượng nhà ở trong dự án đó; Trường hợp chỉ có một dự án có số lượng nhà ở riêng lẻ tương đương 2500 căn thì cá nhân nước nước ngoài chỉ được sở hữu không quá 250 căn. Trường hợp có từ hai dự án trở lên mà tổng số nhà ở riêng lẻ trong dự án này ít hơn hoặc bằng 2500 căn thì cá nhân nước ngoài chỉ được sở hữu không quá 10% số lượng nhà ở của mỗi dự án. Trường hợp được tặng cho, được thừa kế nhà ở vượt quá số lượng nhà ở theo quy định này thì chỉ được hưởng giá trị của nhà ở đó.

Cá nhân nước ngoài thì được sở hữu nhà ở theo thỏa thuận trong các giao dịch hợp đồng mua bán, thuê mua, tặng cho nhận thừa kế nhà ở nhưng tối đa không quá 50 năm, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận và có thể được gia hạn thêm theo quy định của Chính phủ nếu có nhu cầu; thời hạn sở hữu nhà ở phải được ghi rõ trong Giấy chứng nhận.

Trường hợp cá nhân nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam hoặc kết hôn với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì được sở hữu nhà ở ổn định, lâu dài và có các quyền của chủ sở hữu nhà ở như công dân Việt Nam.

Đối với tổ chức nước ngoài thì được sở hữu nhà ở theo thỏa thuận trong các giao dịch hợp đồng mua bán, thuê mua, tặng cho, nhận thừa kế nhà ở nhưng tối đa không vượt quá thời hạn ghi trong Giấy chứng nhận đầu tư cấp cho tổ chức đó, bao gồm cả thời gian được gia hạn thêm; thời hạn sở hữu nhà ở được tính từ ngày tổ chức được cấp Giấy chứng nhận và được ghi rõ trong Giấy chứng nhận này.

Bên cạnh đó, tổ chức nước ngoài và cá nhân nước ngoài được phép nhập cảnh vào Việt Nam có các nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà ở như công dân Việt Nam nhưng phải tuân thủ các quy định sau đây:

Đối với chủ sở hữu là cá nhân nước ngoài thì được cho thuê nhà ở để sử dụng vào các mục đích mà pháp luật không cấm nhưng trước khi cho thuê nhà ở, chủ sở hữu phải có văn bản thông báo về việc cho thuê nhà ở với cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện nơi có nhà ở theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng và phải nộp thuế từ hoạt động cho thuê nhà ở này theo quy định của pháp luật. Trường hợp cá nhân nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam hoặc kết hôn với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì có các nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà ở như công dân Việt Nam.

Đối với chủ sở hữu là tổ chức nước ngoài thì chỉ được sử dụng nhà ở để bố trí cho những người đang làm việc tại tổ chức đó ở, không được dùng nhà ở để cho thuê, làm văn phòng hoặc sử dụng vào mục đích khác.

Trên đây là quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân nước ngoài khi sở hữu nhà ở tại Việt Nam.